Những nhóm hàng xuất khẩu chính 9 tháng năm 2018

.

Hầu hết các nhóm hàng trong tháng 9/2018 đều suy giảm so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất là các nhóm hàng: hàng dệt may giảm 461 triệu USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 258 triệu USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng giảm 240 triệu USD; giày dép các loại giảm 232 triệu USD.

Trong 9 tháng đầu năm 2018, trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 179,47 tỷ USD, tăng 15,8%, tương ứng tăng 24,44 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 7 nhóm hàng tăng trưởng mạnh là: điện thoại các loại và linh kiện tăng 5,16 tỷ USD, hàng dệt may tăng 3,18 tỷ USD; máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 3,03 tỷ USD; máy móc thiết bị dụng cụ & phụ tùng tăng 2,73 tỷ USD, sắt thép các loại tăng 1,21 tỷ USD, máy ảnh máy quay phim và linh kiện tăng 1,13 tỷ USD, giày dép các loại tăng 1,08 tỷ USD.

Điện thoại các loại và linh kiện: Trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 9 đạt 5,09 tỷ USD, giảm nhẹ 1,4% so với tháng trước. Tính từ đầu năm đến hết tháng 9/2018, trị giá xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước đạt 36,69 tỷ USD, tăng 16,4% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 3 quí đầu năm, xuất khẩu nhóm hàng này sang EU (28 nước) đạt 10,14 tỷ USD, tăng 10,9%; xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng gấp 2,4 lần, đạt trị giá gần 5,78 tỷ USD; sang thị trường Hoa Kỳ đạt 4,16 tỷ USD, tăng 43,7%; sang thị trường Hàn Quốc đạt 3,34 tỷ USD, tăng 17,1%... so với cùng kỳ năm trước.

Hàng dệt may: Xuất khẩu hàng dệt may trong tháng đạt 2,7 tỷ USD, giảm 14,6% so với tháng trước. Qua đó, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng/2018 lên 22,45 tỷ USD, tăng 16,5%.

Sau 3/4 chặng đường của năm 2018, Hoa Kỳ vẫn là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất từ Việt Nam với trị giá đạt 10,33 tỷ USD, tăng 11,8% so với cùng kỳ năm trước, và chiếm 46% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của cả nước; tiếp theo là thị trường EU (28 nước) là 3,08 tỷ USD, tăng 11,4%; thị trường Nhật Bản là 2,8 tỷ USD, tăng 24,2%;...

Máy vi tính sản phẩm điện tử & linh kiện: trị giá xuất khẩu nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện trong tháng 9 đạt 2,64 tỷ USD, giảm 8,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm đạt 21,58 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng/2018, xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc dẫn đầu với trị giá đạt hơn 6 tỷ USD, tăng 28,8%; xuất khẩu sang EU (28 nước) đạt 4,05 tỷ USD, tăng 21,1%; sang Hoa Kỳ đạt trị giá 2,07 tỷ USD giảm 14,1%; sang Hàn Quốc đạt trị giá 1,94 tỷ USD, tăng 48,5% so với cùng thời gian năm trước…

Nhóm hàng nông sản (bao gồm hàng rau quả, hạt điều, hạt tiêu, chè, cà phê, gạo, sắn và sản phẩm sắn, cao su): Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 1,26 tỷ USD, giảm 20,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng tính từ đẩu năm đạt 13,63 tỷ USD, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến hết tháng 9/2018, xuất khẩu nhóm hàng nông sản sang Trung Quốc đạt 4,74 tỷ USD, giảm 2,3%; sang Hoa Kỳ đạt 1,51 tỷ USD giảm 4,6%; sang Indonexia đạt 527 triệu USD, tăng 7,4 lần so với cùng kỳ năm 2017…

Máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác: Xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng 9/2018 đạt 1,35 tỷ USD, giảm 15,1% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 12,14 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm trước.

Các thị trường nhập khẩu máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng trong 9 tháng từ đầu năm 2018 chủ yếu gồm: Hoa Kỳ với 2,34 tỷ USD, tăng 29,5%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 1,63 tỷ USD, tăng 24,7%; Ấn Độ với 1,48 tỷ USD, tăng gấp 5,9 lần; Nhật Bản với 1,34 tỷ USD tăng 6,2% so với cùng thời gian năm 2017...

Giày dép các loại: xuất khẩu giầy dép các loại trong tháng 9/2018 đạt 1,17 tỷ USD, giảm 16,6% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu giày dép của cả nước trong 9 tháng/2018 đạt 11,74 tỷ USD, tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu nhóm hàng này trong 3 quí đầu năm sang các thị trường Hoa Kỳ đạt trị giá 4,27 tỷ USD, tăng 13,5%; sang EU (28 nước) đạt trị giá 3,38 tỷ USD, tăng nhẹ 1,6%; sang thị trường Trung Quốc đạt trị giá 1,06 tỷ USD, tăng 28,5%; sang thị trường Nhật Bản đạt 634 triệu USD, tăng 14,7% so với cùng thời gian năm 2017…

Gỗ và sản phẩm gỗ: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt trị giá 715 triệu USD, giảm 10,3% so với tháng trước. Tính đến hết tháng 9 trị giá xuất khẩu nhóm hàng này đạt 6,37 tỷ USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước.

Gỗ và sản phẩm gỗ trong 9 tháng/2018 được xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường Hoa Kỳ với trị giá 2,73 tỷ USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước; sang Nhật Bản với 827 triệu USD, tăng 8%; sang Trung Quốc với 812 triệu USD, tăng 4,5%; …

Hàng thủy sản: trị giá xuất khẩu trong tháng là 778 triệu USD, giảm 9,7% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm nay đạt 6,36 tỷ USD, tăng 6,7% so với cùng thời gian năm 2017.

 Hàng thủy sản trong 9 tháng tính từ đầu năm 2018 chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Hoa Kỳ: 1,14 tỷ USD; tăng 9,6%; EU (28 nước) với 1,11 tỷ USD, tăng 7,7%; Nhật Bản: 994 triệu USD, tăng 5,4%; Trung Quốc: 720 triệu USD, giảm 7,5%… so với một năm trước đó.

Phương tiện vận tải và phụ tùng: xuất khẩu nhóm hàng này trong tháng đạt 569 triệu USD, giảm 13,9% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng/2018 đạt 5,89tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm 2017.

Các thị trường nhập khẩu phương tiện vận tải và phụ tùng từ Việt Nam trong 9 tháng đầu năm gồm: Nhật Bản với trị giá đạt 1,79 tỷ USD, tăng 15%; sang Hoa Kỳ đạt 951 triệu USD, tăng 10%; sang Thái Lan đạt 282 triệu USD, tăng 14,9%; sang Singapore đạt trị giá 279 triệu USD, tăng 84,7% so với cùng thời gian năm trước…

Sắt thép các loại: lượng xuất khẩu sắt thép các loại trong tháng 9 đạt 576 nghìn tấn, với trị giá đạt 407 triệu USD, giảm 4,7% về lượng và giảm 5,5% về trị giá. Qua đó đưa lượng xuất khẩu mặt hàng này trong 9 tháng từ đầu năm 2018 đạt 4,61 triệu tấn, trị giá 3,39 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng và tăng 55,6% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.

Tính đến hết tháng 9/2018 sắt thép các loại chủ yếu xuất khẩu sang các thị trường Campuchia là 976 nghìn tấn, tăng 53,6%; Hoa Kỳ: 718 nghìn tấn, tăng 89,8%; In-đô-nê-xi-a: 452 nghìn tấn, tăng 9,6%; Ma-lai-xi-a: 478 nghìn tấn, tăng 76,6%; EU (28 nước): 431 nghìn tấn, tăng 48% so với cùng kỳ năm trước.

Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện: trị giá xuất khẩu trong tháng là 607 triệu USD, tăng 21,1% so với tháng trước, đưa trị giá xuất khẩu nhóm hàng này trong 9 tháng đầu năm nay đạt 3,49 tỷ USD, tăng 46,9% so với cùng thời gian năm trước.

Trong 9 tháng tính từ đầu năm, máy ảnh, máy quay phim và linh kiện chủ yếu được xuất khẩu sang thị trường: Trung Quốc với 1,8 tỷ USD, tăng 49,9%; Hồng  Kông: 855 triệu USD; tăng 28,1%; Hàn Quốc: 263 triệu USD, tăng gấp 2,7 lần so với một năm trước đó…

Nguồn: Baohaiquan.vn

 

Nguồn: vinanet.vn